Khóa luận Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp hiện nay

pdf 93 trang thiennha21 16/04/2022 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_phap_luat_ve_uu_dai_dau_tu_doi_voi_cac_doanh_nghie.pdf

Nội dung text: Khóa luận Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp hiện nay

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VÕ THANH THỦY PHÁP LUẬT VỀ ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY Ngành: Luật kinh doanh Mã số: 52 39 01 09 Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2012-L KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. NGUYỄN ĐĂNG DUY HÀ NỘI – 2016
  2. LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan Khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng em. Các kết quả nêu trong Khóa luận chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Khóa luận đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. TÁC GIẢ KHÓA LUẬN Võ Thanh Thủy
  3. LỜI CẢM ƠN Trước tiên, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, Thạc sĩ Nguyễn Đăng Duy, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Em xin bày tỏ lời cảm ơn đến những thầy, cô giáo đã giảng dạy em trong bốn năm qua, những kiến thức mà em nhận được trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp em vững bước trong tương lai. Em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè và người thân, đặc biệt là cha mẹ và chị gái, những người luôn kịp thời động viên và là chỗ dựa vững chắc giúp đỡ em vượt qua những khó khăn trong khoảng thời gian thực hiện khóa luận. Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin cảm ơn tất cả những con người, những bài học, những sự kiện đã truyền cảm hứng giúp em hoàn thành bản khóa luận này. Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2016. Võ Thanh Thủy
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng, sơ đồ MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 4. Phương pháp nghiên cứu 3 5. Kết cấu đề tài 3 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ VÀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 4 1.1. Khái quát về khu công nghiệp và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 4 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại Khu công nghiệp 4 1.1.2. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 9 1.2. Khái quát chung về pháp luật ƣu đãi đầu tƣ 11 1.2.1. Khái niệm, bản chất và vai trò pháp luật ưu đãi đầu tư 11 1.2.2. Khái quát pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 13 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 19 2.1. Nội dung pháp luật ƣu đãi đầu tƣ đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 19
  5. 2.1.1. Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp 19 2.1.2. Lĩnh vực được ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp 21 2.1.3. Những ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp 23 2.2. Pháp luật về thủ tục thực hiện ƣu đãi đầu tƣ trong Khu Công nghiệp 36 2.2.1. Thẩm quyền quản lý nhà nước thực hiện ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp 36 2.2.2. Thủ tục cấp, điều chỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư 38 2.3. Bảo đảm ƣu đãi đầu tƣ 41 Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 43 3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật ƣu đãi đầu tƣ đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 43 3.1.1. Thực tiễn thực thi pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 43 3.1.2. Những bất cập và tồn tại pháp luật trong việc áp dụng pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 47 3.2. Một số kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật ƣu đãi đầu tƣ đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 50 3.2.1. Các nguyên tắc định hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 50 3.2.2. Một số kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 51 KẾT LUẬN 54 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC 58
  6. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CCN: Cụm Công nghiệp GCNĐT: Giấy Chứng nhận Đầu tư GDP: Tổng Sản Phẩm Quốc Nội Gross Domestic Product GTGT: Giá trị Gia tăng KCN: Khu Công nghiệp KCNC: Khu Công nghệ cao KCX: Khu Chế xuất TPP: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Trans-Pacific Partnership Bình Dương UBND: Ủy ban Nhân dân UNIDO: Tổ chức Phát triển Công nghiệp United Nations Liên Hiệp Quốc Industrial Development Organization. UNITAD: Diễn đàn của Liên hợp Quốc về United Nations Conference on Thương mại và Phát triển Trade and Development WEPZA: Hiệp hội thế giới về Khu Chế World Economic Processing xuất Zones Association
  7. DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ Số hiệu Tên bảng, sơ đồ Trang Bảng 1.1: So sánh Doanh nghiệp Đầu tư trong nước và Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài 10 Bảng 3.1: Bảng so sánh các chỉ số thành phần của Việt Nam trong Doing Business 2010 - 2016 43 Bảng 3.2: Báo cáo Đầu tư trực tiếp nước ngoài Tháng 12/2015 46 Sơ đồ 2.1: Mô hình Ban Quản lý Khu Công nghiệp 36
  8. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Khu Công nghiệp có tác động vô cùng to lớn đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi một quốc gia. Đây là đầu tầu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cũng là nguồn thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ. Trong thời gian qua ở Việt Nam, Khu Công nghiệp đã thể hiện được vai trò của mình thông qua các kết quả số liệu tăng trưởng liên tục trong các năm. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2015, Khu Công nghiệp thu hút được 563 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký với tổng vốn đầu tư đạt trên 8.461 triệu USD và điều chỉnh tăng vốn cho 315 dự án với tổng số vốn đầu tư tăng thêm hơn 4.719 triệu USD. Tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế cả năm đạt 13.180 triệu USD, bằng khoảng 70% tổng số vốn đầu tư cả nước, vượt 20% so với kế hoạch năm 2015. Về thu hút đầu tư trong nước, trong năm 2015, các Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế đã thu hút được 461 dự án với tổng vốn đăng ký 71.260 tỷ đồng và điều chỉnh tăng vốn cho 123 dự án với tổng vốn tăng thêm 11.163 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư trong nước thu hút được hơn 82.423 tỷ đồng, tăng hơn 6% tổng vốn đăng ký tăng thêm so với cùng kỳ năm 2014. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong các Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế trên cả nước năm 2015, đạt hơn 116.000 triệu USD, tăng hơn 52% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp đạt 78.624 triệu USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2014, đóng góp khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Các Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế đã đóng góp vào ngân sách Nhà nước 90.313 tỷ đồng, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2014. Với những con số nổi bật này, dường như chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam đang đi đúng hướng. Môi trường đầu tư được cải thiện. Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực ngày 1/7/2015 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Đầu tư 2014 đã tạo ra một chuyển biến lớn đối với pháp luật đầu tư nói 1
  9. chung và hệ thống quy phạm điều chỉnh doanh nghiệp đầu tư trong Khu Công nghiệp nói riêng, khắc phục được những khuyết điểm và bất cập của Luật Đầu tư 2005 trước đây. Tuy nhiên pháp luật đầu tư là lĩnh vực rất dễ thay đổi bởi nền kinh tế toàn cầu luôn vận động biến chuyển liên tục. Liệu pháp luật đầu tư hiện hành có phù hợp với tình hình mới. Qua gần 1 năm thực hiện, Luật Đầu tư có bộc lộ những điểm gì bất hợp lý ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp. Việc xem xét, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật ưu đãi đầu tư nói chung và đối với khu công nghiệp ở thời điểm này là việc làm cần thiết. Đã có nhiều luận văn, bài viết nghiên cứu về pháp luật ưu đãi đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, em nhận thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, báo quát, đi sâu vào đánh giá các quy định của pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp theo Luật Đầu tư 2014. Vì vậy, em đã chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Với mong muốn tiếp cận tổng thể quy chế ưu đãi đầu tư mới nhất đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp, đưa ra các đánh giá khách quan, từ đó đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện thêm các quy định pháp luật về ưu đãi đầu tư, khóa luận xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau: - Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về ưu đãi đầu tư nói chung, ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp nói riêng; - Phân tích thực trạng và các bất cập của pháp luật hiện hành về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp; - Trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 2
  10. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định của pháp luật về nội dung và thủ tục ưu đãi đầu tư của doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp và một số biện pháp hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp (ưu đãi về sử dụng đất, thuế, ký quỹ, chính sách lao động, ) - Phạm vi nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành (nhất là Luật Đầu tư 2014) về ưu đãi đầu tư trên cơ sở so sánh với pháp luật ưu đãi đầu tư trước đây, đồng thời tìm hiểu thực tiễn áp dụng, triển khai các quy định về ưu đãi đầu tư tại một số khu công nghiệp cụ thể. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu cơ bản vận dụng để thực hiện Luận văn là: - Phương pháp luận duy vật biện chứng. - Phương pháp luận duy vật lịch sử. - Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp. - Phương pháp tiếp cận hệ thống. 5. Kết cấu đề tài Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu bởi 3 chương: - Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi đầu tư và pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp. - Chương 2: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp. - Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp. 3
  11. Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ VÀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 1.1. Khái quát về khu công nghiệp và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại Khu công nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm Khu công nghiệp Các cuộc cách mạng công nghiệp lan tỏa khắp các quốc gia trên thế giới từ giữa những năm thế kỷ 18 cho đến nay đã để lại nhiều thành tựu lớn cho nhân loại. Một trong những thành tựu có thể dễ dàng nhận ra được đó là sự phát triển lớn mạnh của một hình thái kinh tế - Khu Công nghiệp. Đến nay, Khu Công nghiệp đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia với nhiều hình thức khác nhau. Với đối tượng khai thác và điều kiện cơ sở vậy chất, Khu Công nghiệp được biết đến với nhiều thuật ngữ khác nhau với nhiều điểm chung và riêng biệt giữa các thuật ngữ này. Trên thế giới, Khu công nghiệp có thể được biểu đạt bằng một số cụm từ: Công viên công nghiệp (Industrial Park), Cụm công nghiệp (Industrial Clusters); đối với các Khu công nghiệp chuyên môn có thể được gọi: Khu chế xuất (Export Processing Zones), Khu công nghệ cao (High tech centres); hoặc xuất hiện nhiều hình thái khác như Khu công nghệ sinh thái (Eco Processing Zones), Khu công nghệ sinh học (Bio Technology Park), Dù có khác biệt về cách gọi nhưng về bản chất, Khu công nghiệp là một vùng lãnh thổ độc lập, được phân định ranh giới rõ ràng, quy hoạch tổng thể với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ về dịch vụ hạ tầng kinh tế - xã hội liền kề để thu hút vốn đầu tư, công nghệ, phương pháp quản lý công nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế. Sau đây, xin trích dẫn một số thuật ngữ về Khu Công nghiệp trên thế giới và quy định của Việt Nam về Khu Công nghiệp để làm rõ vị trí của Khu Công nghiệp tại Việt Nam cũng như trên toàn cầu. 4
  12. - Theo UNIDO (1997), “Khu Công nghiệp được định nghĩa như là một vùng đất có quy hoạch, được phát triển và chia ra thành các mảnh đất căn cứ theo một quy hoạch tổng thể, có hoặc không có các nhà xưởng được xây dựng trước, có/hoặc không có công trình hỗ trợ dùng chung, là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp”. Khái niệm về Khu Công nghiệp này cũng được nhắc lại trong tài liệu Khu Chế xuất ở các nước đang phát triển được UNICO công bố năm 1990, rằng “KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà”. - Theo quan điểm của Hiệp hội thế giới về Khu Chế xuất (WEPZA) thì Khu Công nghiệp là một hình thức phái sinh của Khu Chế xuất, nằm trong khu vực của Khu Chế xuất - nơi được chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động, tương tự như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, hay bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được tổ chức này công nhận. Từ đây thấy được rằng, những thuật ngữ khác nhau về Khu Công nghiệp được hình thành dựa trên nhu cầu phát triển mở rộng của thương mại và đầu tư quốc tế, xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển nên khái niệm trên đã được bổ sung thành những quan niệm mới. - Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, do chính phủ thành lập hay cho phép thành lập. Thuật ngữ này được thống nhất trong các văn bản pháp luật, như Luật Đầu tư 2014 (Khoản 11, Điều 3) quy định “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”. Có thể thấy rằng, tuy có nhiều hình thái về Khu Công nghiệp trên thế giới với các tên gọi khác nhau, Khu Công nghiệp về cơ bản đều thống nhất với những đặc trưng: (i) về môi trường kinh doanh, chúng có vị trí thuận lợi cho việc phát 5
  13. triển sản xuất những sản phẩm, dịch vụ công nghiệp riêng biệt; (ii) về ranh giới độc lập, chúng được quy hoạch phân cách về mặt địa lý dưới sự chấp thuận thành lập của cơ quan nhà nước; (iii) về mục đích, nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp quốc gia, là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục tiêu xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà. Thuật ngữ Khu Công nghiệp tại Việt Nam cũng tuân thủ những đặc trưng cơ bản này. Đặc biệt, Luật Đầu tư 2014 mới ra đời đã sửa đổi một số nhược điểm của Luật Đầu tư 2005 cũ khi lược bỏ cụm “được thành lập theo quy định Chính phủ” để thống nhất với khái niệm tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. Khu Công nghiệp tại Việt Nam có thể được thành lập bởi cơ quan nhà nước ở Trung ương (theo quyết định của thủ tướng Chính phủ) hoặc các Khu Công nghiệp do chính quyền địa phương (UBND tỉnh) thành lập. Khái niệm được quy định trong các văn bản pháp luật kể trên đã khái quát và bao quát hóa hơn, đảm bảo cho việc quản lý của cơ quan nhà nước. 1.1.1.2. Đặc điểm và vai trò của các Khu Công nghiệp Như đã đề cập ở trên, Khu Công nghiệp nói chung có những đặc trưng riêng cho dù có tồn tại nhiều khác nhau về cơ sở hạ tầng, quy mô, thẩm quyền thành lập ở các quốc gia khác nhau. Dưới đây là những đặc điểm làm nổi bật vai trò của Khu Công nghiệp đối với đời sống kinh tế của quốc gia, đặc biệt là tại Việt Nam: - Thứ nhất, Khu Công nghiệp đều có tính chất hoạt động đặc thù, mục tiêu công nghiệp hóa đất nước, thu hút đầu tư nước ngoài. Đây là nơi nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tiếp nhận, đào tạo chuyển giao công nghệ mới, làm tăng tỷ trọng công nghiệp, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Khu Công nghiệp là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục tiêu xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà. Nơi có môi trường kinh doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng 6
  14. những quy chế tự do, các chính sách ưu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội địa. - Thứ hai, Khu Công nghiệp được đặt dưới sự quản lý của một cơ quan quản lý chuyên biệt. Sự quản lý nhà nước đối với Khu Công nghiệp chưa được quy định cụ thể tại văn bản nào mà được thể hiện dưới các quy định pháp luật, tức bao hàm các hoạt động quản lý về quy hoạch xây dựng Khu Công nghiệp (quy hoạch ngành, lĩnh vực đầu tư, mật độ xây dựng hệ thống công trình kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường), các hoạt động quản lý về thủ tục đầu tư (chấp thuận, cấp giấy chứng nhận). Tại Việt Nam, Ban Quản lý Khu Công nghiệp cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều trực tiếp thực hiện chức năng quản lý này, bên cạnh có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu Tư, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương ) - Thứ ba, với vai trò đặc trưng của mình, Khu Công nghiệp đều có cơ sở hạ tầng riêng biệt với ranh giới địa lý được phân biệt với vùng lãnh thổ khác. Khu Công nghiệp được cấp phép quy hoạch và xây dựng trên hệ thống đường xá, điện, nước, quản lý riêng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động sản xuất công nghiệp tại đây được hưởng các chính sách pháp luật ưu đãi như kết cấu hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính tiền tệ, môi trường đầu tư Với những đặc điểm trên, việc điều chỉnh quy định pháp luật nói chung, quy định về ưu đãi đầu tư nói riêng tại Khu Công nghiệp vô cùng quan trọng. Khu Công nghiệp thực hiện hoạt động của mình trong một khu vực độc lập, tác động đáng kể tới vấn đề môi trường, nhân công lao động. Trong phạm vi rộng hơn, Khu Công nghiệp là nơi tập hợp các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, việc quản lý nhà nước sẽ đảm bảo mối liên kết chặt chẽ và đồng bộ. Việc nắm rõ đặc trưng của Khu Công nghiệp giúp ta hiểu được lý do hình thành các quy định pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời siết chặt, nâng cao quyền lợi và vị thế của Khu Công nghiệp. 7
  15. 1.1.1.3. Phân loại Khu Công nghiệp Có nhiều cách phân loại Khu Công nghiệp tùy thuộc vào từng góc nhìn chủ thể, sau đây, tác giả xin đưa ra một số cách phân loại Khu Công nghiệp như sau: - Căn cứ theo chủ đầu tư: (i) KCN gồm các doanh nghiệp, dự án trong nước (ii) KCN hỗn hợp, bao gồm các doanh nghiệp, dự án trong nước và nước ngoài (iii) KCN gồm các doanh nghiệp, dự án nước ngoài. - Căn cứ theo tính chất, hình thức: (i) KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau thoả mãn yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp. (ii) KCN chuyên ngành: chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hoá chất-hoá dầu, điện tử-tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (hoá chất Việt trì, lọc dầu Dung Quất, ). (iii) KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững. Mô hình này còn mới mẻ tại Việt Nam nhưng đã có một số KCN thực hiện như Khánh Phú (Ninh Bình), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Trà Nóc 1, 2 (Cần Thơ) và được nhà nước khuyến khích các KCN cùng thực hiện chuyển đổi sang KCN sinh thái vì những lợi ích lớn nó mang lại. (iv) KCN hỗn hợp: là KCN có đầy đủ các yếu tố của KCN đa ngành, trong đó chia ra các khu chuyên ngành, khu có yêu cầu công nghệ cao, có tổ chức dịch vụ như vui chơi, giải trí, bệnh viện, trường học đảm bảo đời sống của người lao động trong KCN và dân nhập cư. Loại hình này phổ biến ở các quốc gia như KCN thương mại Indonesia, các công viên thương mại Đài Loan, Thái Lan và một số quốc gia Tây Âu. - Căn cứ theo đặc trưng quản lý của cơ quan nhà nước theo hệ thống quy định pháp luật: 8
  16. (i) KCN tập trung: đa ngành, chuyên ngành, có quy mô diện tích, điều kiện hình thành khác nhau. (ii) KCX: là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. (iii) KCNC: Là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao (KCNC Hòa Lạc, KCNC Đà Nẵng, ) (iv) CCN: Cụm công nghiệp là tên gọi chung cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thực chất là KCN tập trung nhưng có quy mô nhỏ (không quá 50 ha – mở rộng không quá 75 ha) do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập theo quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn. 1.1.2. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Khu Công nghiệp là địa bàn thu hút không chỉ đầu tư trong nước mà còn thu hút đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Khu Công nghiệp thường thành lập các doanh nghiệp. Vì vậy, để phân loại các doanh nghiệp Khu Công nghiệp có thể xét trên tiêu chí vốn góp, tồn tại ba loại doanh nghiệp như sau: - Doanh nghiệp trong nước. - Doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ba loại doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp trên, dựa vào lượng vốn góp để phân loại, thoạt nhìn không có điểm khác biệt với các doanh nghiệp bên ngoài Khu Công nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp trong và ngoài Khu Công nghiệp có nhiều điểm khác biệt. Tác giả xin đưa ra bảng so sánh dưới đây để làm rõ vị trí của các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp (Bảng 1): 9
  17. Bảng 1.1: So sánh Doanh nghiệp Đầu tƣ trong nƣớc và Doanh nghiệp Đầu tƣ nƣớc ngoài Tiêu Doanh nghiệp ngoài Khu Doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp chí Công nghiệp Doanh nghiệp ngoài Khu Doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Công nghiệp thực hiện thực hiện hoạt động ở các lĩnh vực pháp Lĩnh hoạt động ở tất cả các lĩnh luật không cấm. Tuy nhiên, phạm vi hoạt vực vực pháp luật không cấm. động của các doanh nghiệp này thường hoạt Mỗi doanh nghiệp có thể hẹp hơn vì mỗi Khu Công nghiệp thường động đa dạng ngành nghề kinh sản xuất chuyên biệt trong lĩnh vực riêng, doanh. thường là các ngành công nghiệp mới (điện tử, công nghệ thông tin, lắp ráp ) Cơ sở hạ tầng riêng rẽ Các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp giữa các doanh nghiệp. thường sử dụng cơ cấu hạ tầng (hệ thống Cơ sở điện nước, hệ thống xử lý nước thải, ). vật Nếu Khu Công nghiệp tồn tại dưới dạng chất loại hình KCN sinh thái thì các doanh nghiệp này còn hỗ trợ, bổ trợ lẫn nhau về sản phẩm, nguyên liệu Hoạt động quản lý nhà Hoạt động quản lý nhà nước tại Khu Công Tổ nước theo lãnh thổ: nghiệp được thực hiện bởi cơ quan quản lý chức UBND, Sở, Bộ nơi cư trú chuyên biệt – Ban Quản lý KCN, chịu sự quản của doanh nghiệp. chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên lý môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành. Doanh nghiệp chỉ được Pháp luật cho phép các doanh nghiệp trong hưởng ưu đãi khi đầu tư Khu Công nghiệp trực tiếp được hưởng ưu Ƣu vào các lĩnh vực hoặc tại đãi ngay lập tức. Các ưu đãi đầu tư này sẽ đãi khu vực được pháp luật được cụ thể hóa ở các phần sau của Luận đầu tƣ quy định cho phép hưởng văn này. ưu đãi. 10
  18. 1.2. Khái quát chung về pháp luật ƣu đãi đầu tƣ 1.2.1. Khái niệm, bản chất và vai trò pháp luật ưu đãi đầu tư 1.2.1.1. Khái niệm và bản chất pháp luật ưu đãi đầu tư Để khái quát hóa được khái niệm về pháp luật ưu đãi đầu tư, tác giả xin dẫn chiếu từ bản chất của vấn đề. Câu hỏi được đặt ra, nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư sẽ quan tâm đến vấn đề gì nhất, mục đích kinh doanh là gì? Câu trả lời là: Lợi nhuận. Nhà đầu tư sẽ tìm hiểu thị trường và xem xét các lĩnh vực, khu vực, địa bàn có thể đem lại lợi nhuận tối đa. Đây chính là bản chất mà pháp luật ưu đãi đầu tư đem đến cho các nhà đầu tư. Vai trò của Khu Công nghiệp là đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhà nước sẽ đưa ra nhiều chính sách pháp luật cùng lúc đẩy mạnh vai trò này của Khu Công nghiệp. Vì vậy, bản chất của pháp luật ưu đãi đầu tư là: - Pháp luật ưu đãi đầu tư là mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Để đảm bảo lợi ích của các bên, Nhà nước đưa ra những biện pháp ưu đãi, nhà đầu tư hưởng lợi từ các biện pháp ưu đãi này. Đồng thời, nhà đầu tư tham gia hoạt động tại khu vực được ưu đãi sẽ nâng cao được vai trò của mình theo định hướng của Nhà nước. - Pháp luật ưu đãi đầu tư là cam kết giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Tình hình kinh tế, xã hội có thể thay đổi, ảnh hưởng đến các điều kiện hoạt động kinh doanh, đầu tư. Tuy nhiên, pháp luật ưu đãi đầu tư là sự cam kết bảo đảm sự ổn định của thị trường, giúp các nhà đầu tư tin cậy tập trung hoạt động kinh doanh của mình. Bản chất pháp luật ưu đãi đầu tư được thể hiện rõ trong khái niệm của Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) thì: “Khuyến khích đầu tư hay còn gọi là ưu đãi đầu tư là các biện pháp được Chính phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành các khu vực cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư”. Tuy nhiên, pháp luật 11
  19. Việt Nam chưa đưa ra quy định cụ thể về thuật ngữ này và phần nào không đồng nhất trong các văn bản. Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 218/2006/NĐ-CP đưa ra nhiều thuật ngữ cùng lúc về ưu đãi đầu tư như: ưu đãi, hỗ trợ, hỗ trợ đầu tư, Đến khi Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP ra đời đã hệ thống hóa pháp luật ưu đãi đầu tư với thuật ngữ duy nhất là “ưu đãi đầu tư”. Dù không được cụ thể hóa trong các văn bản, dựa vào bản chất nêu trên, có thể khái quát khái niệm pháp luật ưu đãi đầu tư như sau: Pháp luật ưu đãi đầu tư là tất cả những quy định do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, của nền kinh tế - xã hội và các nhà đầu tư. 1.2.1.2. Vai trò pháp luật ưu đãi đầu tư Nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh, pháp luật ưu đãi đầu tư có vai trò tác động mạnh mẽ đối với nhiều lĩnh vực như sau: Đối với chủ trương phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hút nhà đầu tư nước ngoài: Pháp luật ưu đãi đầu tư do Nhà nước ban hành giúp định hướng sự phát triển công nghiệp thông qua những chủ trương, đường lối, chính sách để tạo thành hành lang pháp lý phát triển hoạt động đầu tư. Nhờ các quy định về ưu đãi đầu tư mà các nhà đầu tư sẽ tập trung vào lĩnh vực, địa bàn trọng yếu được khuyến khích đầu tư. Ưu đãi đầu tư là động lực thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực trọng điểm bên cạnh việc phát triển đa dạng ngành nghề công nghiệp theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt trong việc nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng số GDP của các ngành kinh tế cả nước. Quy định về ưu đãi đầu tư cũng đảm bảo đồng bộ hệ thống hóa pháp luật, khi Việt Nam thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia các tổ chức thương mại, các diễn đàn hợp tác kinh tế xuyên quốc gia, thì để được sự công nhận và tồn tại trong cộng đồng ấy thì hệ thống pháp luật phải có sự tương đồng nhất định. 12
  20. Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia: Quy định về ưu đãi đầu tư được áp dụng dựa trên nghiên cứu về địa bàn, lĩnh vực kinh tế phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của đất nước. Chính vì vậy, thông qua quy định ưu đãi đầu tư, Nhà nước thực hiện việc cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng thích hợp. Một mặt tạo ra những lợi ích nhất định cho nhà đầu tư, mặt khác giúp Nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý và phát triển được các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn cần tập trung đầu tư theo từng giai đoạn nhất định từ đó phát triển đồng đều toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đối với xã hội: tác động không nhỏ đến vấn đề lao động, môi trường, phương pháp công nghệ Những dự án đầu tư tại các khu vực hưởng ưu đãi sẽ giải quyết được một lượng lớn lực lượng lao động không chỉ phục vụ trong dự án mà còn tại các khu lân cận, phát triển các dịch vụ hỗ trợ. Nhu cầu tuyển dụng lao động tăng cao sẽ đi kèm với chất lượng lao động tăng lên, cùng với những hoạt động đào tạo nghề để đáp ứng những đòi hỏi này. Bên cạnh đó, người lao động làm việc tại các công ty nước ngoài sẽ được đào tạo lại, đào tạo bổ sung để thích hợp và tiếp thu tác phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài. Việc này sẽ dần tác động đến sự thay đổi công nghệ, trang thiết bị, chất lượng sản phẩm, cơ chế hoạt động, kiến thức và phương pháp quản lý của các doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy cho các doanh nghiệp này đổi mới để đạt hiệu quả kinh tế cao. 1.2.2. Khái quát pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 1.2.2.1. Cấu trúc pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Cấu trúc pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp được chia thành ba phần: địa vị pháp lý của doanh nghiệp, nội dung cụ thể và thủ tục thực hiện các ưu đãi đầu tư. - Về địa vị pháp lý: 13
  21. Địa vị pháp lý của Khu Công nghiệp được thể hiện trong các văn bản pháp luật chuyên biệt, điều chỉnh hoạt động của KCN như Nghị định 29/2008/NĐ-CP về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Khu kinh tế được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. Đồng thời, Luật Đầu tư 2014 cùng với Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư mới ra đời cũng khẳng định vị thế của KCN trong Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư. Theo đó, Khu Công nghiệp thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư (Điều 16.2 (b) Luật Đầu tư 2014 và Điều 16, Nghị định 29/2008/NĐ-CP). Đối với Khu Công nghiệp thành lập theo quy định của Chính phủ, Khu Công nghiệp này được hưởng ưu đãi đối với địa bàn đặc biệt khó khăn. Đây là những quy chế pháp lý riêng biệt đảm bảo phát huy vai trò KCN của Nhà nước. - Nội dung các ưu đãi đầu tư: Như đã đề cập tại phần Khái niệm pháp luật ưu đãi đầu tư, các quy định pháp luật không khái quát hóa khái niệm qui chế ưu đãi mà đưa ra phạm vi và hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư để xác định. Dựa vào Điều 15 Luật Đầu tư 2014, có thể chia nội dung các ưu đãi đầu tư thành ba nội dung như sau: (i) Thuế suất Thu nhập Doanh nghiệp (ii) Thuế nhập khẩu (iii) Tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất. Bên cạnh đó, Khu Công nghiệp còn được hưởng các biện pháp hỗ trợ đầu tư tùy thuộc vào Chương trình đầu tư, chính sách và ngân sách các tỉnh. Đây cũng là tính cạnh tranh và hấp dẫn về môi trường đầu tư của từng địa phương. - Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư: Để được hưởng những ưu đãi, nhà đầu tư ngoài việc xác định các điều kiện để được hưởng ưu đãi, còn phải làm thủ tục để hưởng các ưu đãi đó. Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong KCN xác lập thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước chuyên biệt đối với các KCN là các Ban quản lý 14
  22. KCN. Quy định về thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư có vai trò quan trọng để các doanh nghiệp được thực hiện hóa quyền hưởng ưu đãi của mình và xác định nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước đảm bảo thực hiện các quyền này. 1.2.2.2. Hệ thống quy định pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp hiện hành Các quy định pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp được Chính phủ ban hành trong các văn bản chuyên biệt và cả trong các quy định pháp luật chung, hệ thống hóa quy chế ưu đãi. Có thể phân loại các quy định này, bao gồm quy định khung và quy định chuyên ngành, dựa trên nội dung pháp luật ưu đãi đầu tư: - Quy định khung: Nằm trong các văn bản chuyên biệt về đầu tư và Khu Công nghiệp, các quy định tại đây sẽ điều chỉnh chung về nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư: (i) Luật Đầu tư 2014 (ii) Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Đầu tư (iii) Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất và Khu Kinh tế (iv) Nghị định 164/2013/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 29/2008/NĐ-CP Các quy định khung điều chỉnh về đối tượng được hưởng ưu đãi, phạm vi ưu đãi theo các điều kiện địa bàn, lĩnh vực, các thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư, nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư được cụ thể và bao hàm tất cả các trường hợp dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng. - Quy định chuyên ngành: Nằm trong các văn bản chuyên ngành có mối liên hệ với quy chế ưu đãi đầu tư. Như đã đề cập ở trên, pháp luật ưu đãi đầu tư là tổng thể các quy định ưu đãi trong các mặt hoạt động của dự án (được chia làm 3 mảng chính: Thuế Thu nhập Doanh nghiệp, thuế Nhập khẩu và Thuế đất, tiền sử dụng đất) nên các quy định này được sắp xếp riêng lẻ ở các văn bản chuyên ngành, cụ thể bao gồm: 15
  23. (i) Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp số 14/2008/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 32/2013/QH13; (ii) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014; (iii) Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp; (iv) Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13; (v) Nghị định 209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT; (vi) Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế; (vii) Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 (viii) Nghị định 87/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu; (ix) Luật đất đai 2013 (x) Nghi định số 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất (xi) Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, mặt nước; (xii) Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 (xiii) Nghị định 53/2011/NĐ-CP ngày 01/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (xiv) Và các văn bản có liên quan khác. 1.2.2.3. Bối cảnh pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp hiện nay Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 cùng với Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết và thực hiện Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày 27/12/2015 là hai văn bản pháp luật khung ảnh hưởng lớn tới bổi cảnh 16
  24. pháp luật đầu tư nói chung và pháp luật về ưu đãi đầu tư nói riêng. Sự ra đời này đã góp phần sửa đổi, hoàn chỉnh những khiếm khuyết của hệ thống văn bản trước đó, tuy nhiên, cũng tạo ra nhiều bỡ ngỡ trong hoạt động thực thi đối với các doanh nghiệp cũng như hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau đây, tác giả sẽ tóm lược những chuyển biến về pháp luật ưu đãi đầu tư có tác động trong quá trình thực hiện của các bên. Một là, pháp luật đầu tư đã thống nhất, đồng bộ hóa Danh mục lĩnh vực, địa bàn hưởng ưu đãi đầu tư. Trước đây, Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Đầu tư 2005 đưa ra Danh mục các lĩnh vực, địa bản ưu đãi đầu tư, đồng thời, các văn bản chuyên ngành khác cũng đưa ra Danh mục ưu đãi đầu tư của mình, như: Danh mục ưu đãi Thuế Thu nhập Doanh nghiệp trong Nghị định 124/2008/NĐ-CP, Danh mục ưu đãi về Thuế Nhập khẩu của Nghị định 87/2010/NĐ-CP. Chính vì việc các quy định nằm rải rác trong các văn bản chuyên ngành gây ra sự khó khăn thực hiện thủ tục ưu đãi đầu tư. Ưu đãi đầu tư là biện pháp khuyến khích của cơ quan nhà nước với các nhà đầu tư, tuy nhiên trong điều kiện như vậy, các quy định này còn thiếu minh bạch, dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan quản lý và nhà đầu tư, gây nhiều khó khăn hơn. Luật Đầu Tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP đã thống nhất các văn bản, giúp ưu đãi đầu tư phát huy được vai trò của mình. Điều 66 Nghị định 118/2015/NĐ-CP bãi bỏ các văn bản cũ có quy định về danh mục đầu tư. Tất cả các văn bản chuyên ngành về ưu đãi đầu tư cùng với các hoạt động kinh doanh đầu tư của cả nước chỉ còn phải đối chiếu trên một Danh mục thống nhất. Thứ hai, cụ thể hóa các quy định về ưu đãi đầu tư hơn. Luật Đầu tư 2015 đã chú trọng lập pháp các quy định về ưu đãi đầu tư. Cụ thể, quy định rõ hình thức và đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư (Điều 15); bổ sung và chỉnh lý Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư, Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư (Điều 16), quy định rõ thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư (Điều 17); quy định các chính sách hỗ trợ đầu 17
  25. tư (mục 2 Chương III). Đối với những dự án quy mô lớn, có tính chất đặc biệt quan trọng hoặc dự án thực hiện tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật Đầu tư 2014 bổ sung quy định theo hướng giao Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định ưu đãi đầu tư khác với các ưu đãi đầu tư được quy định tại Luật này trong trường hợp Nhà nước cần khuyến khích (Điều 18). Thứ ba, Luật Đầu tư 2014 mới đảm bảo các nhà đầu tư về quyền lợi hưởng ưu đãi đầu tư của mình, thông qua các quy định về đảm bảo đầu tư đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng (Điều 15.3), quy định bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật (Điều 3.2, Nghị định 118/2015/NĐ- CP). Những điểm mới này là cam kết của Nhà nước trong bối cảnh pháp luật Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập, đảm bảo tính dự đoán trước về mặt lập pháp, củng cố, khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp. 18
  26. Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 2.1. Nội dung pháp luật ƣu đãi đầu tƣ đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp 2.1.1. Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp Điều 16, Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp là “Nhà đầu tư có dự án đầu tư vào Khu Công nghiệp”. Ngoài ra, không có quy định khác về phân nhóm các nhà đầu tư này. Để hiểu thế nào là nhà đầu tư có dự án đầu tư vào Khu Công nghiệp, cần phải tìm hiểu Khu Công nghiệp có những loại dự án đầu tư nào. Dựa vào hoạt động thực tế ở Khu Công nghiệp, nơi có các nhà đầu tư thực hiện hoạt động sản xuất công nghiệp, đồng thời cũng có các nhà đầu tư thực hiện hoạt động phục vụ cơ sở vật chất cho các nhà đầu tư khác (kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ ). Tuy Luật Đầu tư 2014 không cụ thể phân loại các nhà đầu tư này, nhưng theo Điều 47 và Điều 48 có thể phân loại các doanh nghiệp thành lập và hoạt động hiện hữu trong Khu Công nghiệp theo 2 nhóm là: (i) Doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp; (ii) Doanh nghiệp sản xuất khác. Nhóm 1: Doanh nghiệp sản xuất - là các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp được thành lập và hoạt động trong Khu Công nghiệp. Về mặt loại hình, tác giả đã đề cập tại Chương I, cũng tương tự như các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp sản xuất cũng được phân chia thành ba loại hình dựa theo chủ sở hữu: (i) Doanh nghiệp trong nước; (ii) Doanh nghiệp liên doanh; (iii) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trong đó, doanh nghiệp nước ngoài chiếm tỉ trọng lớn trong Khu Công nghiệp, trái lại, doanh nghiệp trong nước lại chiếm tỉ lệ rất nhỏ do đặc trưng thu hút phần lớn nhà đầu tư nước 19
  27. ngoài của Khu Công nghiệp. Căn cứ theo lĩnh vực, các doanh nghiệp sản xuất này có thể chia thành các doanh nghiệp công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, các ngành công nghiệp đặc thù (công nghệ, chế biến, ). Nhóm 2: Doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp. Đây là những doanh nghiệp đầu tiên hoạt động xây dựng, thực hiện dịch vụ ban đầu tại Khu Công nghiệp. Các hoạt động của doanh nghiệp này có thể là: Xây dựng nhà xưởng, văn phòng, kho bãi để bán hoặc cho thuê; Định giá cho thuê đất, giá cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật; Thu các loại phí sử dụng hạ tầng; Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất và cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp Pháp luật Việt Nam hiện nay không có sự giới hạn thành phần kinh tế được phép đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong Khu Công nghiệp. Do vậy, ngoài nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài cũng có khả năng tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng trong KCN với tư cách liên doanh hoặc độc lập. Doanh nghiệp xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN có thể là doanh nghiệp Việt Nam (Công ty đầu tư phát triển hạ tầng Viglacera, Công ty Cổ phần Sonadezi Long Bình) hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài(Tập đoàn Jababeka (Indonesia), Cty TNHH Hưng nghiệp Formosa (Đài Loan) hoặc doanh nghiệp liên doanh (Công ty Cổ phần phát triển Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (Liên doanh Việt Nam và Singapore), Công ty Phát triển KCN Long Bình (Liên doanh Việt – Nhật). Như vậy, đặc điểm chung của hai nhóm doanh nghiệp này là đều được phân chia thành ba loại hình chính dựa trên tỉ lệ vốn sở hữu của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Liệu có sự khác biệt về việc hưởng ưu đãi đầu tư giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài? Câu trả lời khẳng định là không. Pháp luật Việt Nam đã tạo ra một sân chơi công bằng, minh bạch, bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Các quy định về ưu đãi đầu tư nói chung phổ quát trên các lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ở đây Khu Công nghiệp nói riêng là địa bàn được ưu 20
  28. đãi. Chính vì thế, việc nhà đầu tư có sở hữu vốn trong nước hay nước ngoài đều không có tác động đến quyền hưởng ưu đãi của họ trong lĩnh vực/ địa bàn được ưu đãi. Tinh thần này cũng được nhất quán thể hiện qua quy định chuyên ngành về hoạt động tại Khu Công nghiệp, Nghị định 29/2008/NĐ-CP, Điều 16 về đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư mà tác giả đã đề cập ở trên, cụm từ “Nhà đầu tư có dự án đầu tư vào Khu Công nghiệp” đã bao hàm việc tất cả các nhà đầu tư đều thực hiện chung những yêu cầu mà Nhà nước quy định cũng như đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư một cách bình đẳng. 2.1.2. Lĩnh vực được ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp Theo Điều 16, Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp, các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp lựa chọn hưởng ưu đãi đầu tư dựa trên cả địa bàn Khu Công nghiệp – là khu vực được ưu đãi đầu tư, và theo lĩnh vực sản xuất của các doanh nghiệp. Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư vào KCN là một dạng ưu đãi về địa bàn đầu tư do vậy Nghị định 29/2008/NĐ-CP không nêu ra các lĩnh vực được ưu đãi mà các điều kiện về lĩnh vực được ưu đãi sẽ áp dụng theo quy định của Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Lĩnh vực ưu đãi đầu tư được chia làm đặc biệt ưu đãi và ưu đãi, quy định cụ thể trong Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư đính kèm Nghị định 118/2015/NĐ- CP và được phân thành 13 lĩnh vực trong Luật Đầu tư 2014 như sau: 1) Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; hoạt động nghiên cứu và phát triển; 2) Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết kiệm năng lượng; 3) Sản xuất sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô; đóng tàu; 4) Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da giày và các sản phẩm quy định tại điểm c khoản này; 21
  29. 5) Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số; 6) Nuôi trồng, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng và bảo vệ rừng; làm muối; khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, sản phẩm công nghệ sinh học; 7) Thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; 8) Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị; 9) Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; 10) Khám bệnh, chữa bệnh; sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc phòng, chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y; nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các loại thuốc mới; 11) Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật hoặc chuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 12) Đầu tư trung tâm lão khoa, tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc màu da cam; trung tâm chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ em lang thang không nơi nương tựa; 13) Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô. Bên cạnh đó, văn bản chuyên ngành Nghị định 29/2008/NĐ-CP, Điều 16.4 cũng quy định trường hợp đặc biệt, các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế Thu nhập doanh nghiệp cao nhất, gồm: (i) Dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và thực hiện tại khu công nghiệp được thành lập tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (ii) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao tại khu công nghiệp, khu kinh tế; (iii) Dự án đầu tư có quy mô lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành, lĩnh vực hoặc phát triển kinh tế - xã hội của khu vực tại khu công nghiệp, khu kinh tế sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. 22
  30. Trên đây là tất cả các quy định về lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại Khu Công nghiệp, có thể dễ dàng thấy rằng Khu Công nghiệp được Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích, đặc biệt là cho các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao. Đây là lĩnh vực mũi nhọn trong mục tiêu phát triển công nghiệp của Việt Nam. Với danh mục 13 ngành nghề ưu đãi, chủ yếu là cho các lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp có nhiều lợi thế và được đảm bảo những quyền lợi của mình. 2.1.3. Những ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp 2.1.3.1. Ưu đãi về thuế Thu nhập Doanh nghiệp Như đã nói ở Chương I, pháp luật ưu đãi đầu tư được chia thành quy định chung và quy định chuyên ngành. Điều 16, Nghị định 118/2015/NĐ-CP đưa ra các nguyên tắc áp dụng chế định ưu đãi, đối với ưu đãi về Thuế Thu nhập Doanh nghiệp của dự án đầu tư tại Khu Công nghiệp thì “thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp”. Tuy rằng với nguyên tắc này, đối tượng hưởng ưu đãi thuế Thu nhập Doanh nghiệp sẽ bị thu hẹp so với Nghị định 29/2008/NĐ-CP - tất cả các dự án đầu tư vào KCN không phân biệt KCN đó thuộc địa bàn nào đều được hưởng ưu đãi đầu tư. Nhưng với nguyên tắc này, Nhà nước sẽ phân bổ, phát triển đồng đều, thống nhất các Khu Công nghiệp, định hướng nguồn đầu tư, tránh tình trạng tập trung nhiều Khu Công nghiệp tại một vài địa phương. Dẫn chiếu đến luật chuyên ngành, với hai nhóm doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp, mỗi nhóm sẽ áp dụng các quy định ưu đãi pháp luật về thuế Thu nhập Doanh nghiệp riêng. a. Căn cứ hưởng ưu đãi Thuế Thu nhập doanh nghiệp: - Nhóm 1: Doanh nghiệp sản xuất, theo các quy định về Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp, nằm trong các trường hợp sau sẽ được áp dụng ưu đãi thuế: Căn cứ vào địa bàn Khu Công nghiệp, được miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại Khu Công nghiệp (Điều 16.3, Nghị định 218/2013/NĐ-CP) trừ 23
  31. Khu Công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội thuận lợi. Địa bàn có điều kiện – kinh tế xã hội thuận lợi được quy định tại Điều 1.6 của Nghị định 91/2014/NĐ-CP, là: (i) Các quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh, không bao gồm các quận của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009; (ii) Trường hợp Khu Công nghiệp nằm trên cả địa bàn thuận lợi và địa bàn không thuận lợi thì việc xác định ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp căn cứ vào vị trí thực tế của dự án đầu tư trên thực địa. Việc xác định đô thị loại đặc biệt, loại I quy định tại Khoản này thực hiện theo quy định của Chính phủ quy định về phân loại đô thị. Căn cứ vào lĩnh vực sản xuất, quy định ưu đãi của luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp có đưa ra các ngành nghề mà doanh nghiệp sản xuất trong Khu Công nghiệp được nhận ưu đãi (Điều 15.1 của Nghị định 218/2013/NĐ-CP): (i) Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (ii) Ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; (iii) Ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; (iv) Đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; (v) Đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, (vi) Ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; (vii) Đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; (viii) Cầu, đường bộ, đường sắt; (ix) Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; (x) Sân bay, nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định; 24
  32. (xi) Sản xuất sản phẩm phần mềm; (xii) Sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; (xiii) Sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; (xiv) Phát triển công nghệ sinh học. Căn cứ vào tỷ lệ vốn đầu tư, doanh nghiệp sản xuất cũng được hưởng ưu đãi thuế Thu nhập Doanh nghiệp trong những trường hợp sau đây: (i) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và dự án khai thác khoáng sản, có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12.000 (mười hai nghìn) tỷ đồng, sử dụng công nghệ phải được thẩm định theo quy định của Luật Công nghệ cao, Luật Khoa học và công nghệ, thực hiện giải ngân tổng vốn đầu tư đăng ký không quá 5 năm kể từ ngày được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư (Điều 1.10, Nghị định 12/2015/NĐ-CP); (ii) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất (trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai thác khoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau (Điều 1.9, Nghị định 12/2015/NĐ-CP): - Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 6 (sáu) nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 3 năm kể từ thời điểm được phép đầu tư lần đầu theo quy định của pháp luật về đầu tư và có tổng doanh thu tối thiểu đạt 10 (mười) nghìn tỷ đồng/năm chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu. - Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 6 (sáu) nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 3 năm kể từ thời điểm được phép đầu tư lần đầu theo quy định của pháp luật về đầu tư và sử dụng thường xuyên trên 3.000 lao động chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu. Số lao động sử dụng thường xuyên được xác định theo quy định của pháp luật về lao động. 25
  33. Nhóm 2: Doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp. Xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư của Luật Đầu tư – được quy định trong Danh mục ưu đãi đầu tư đính kèm Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Trước khi có Nghị định 118/2015/NĐ- CP, Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp không đưa ra ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực kết cấu hạ tầng và Danh mục ưu đãi đầu tư mà chỉ đưa ra ưu đãi với địa bàn trong Danh mục đính kèm Nghị định 218/2013/NĐ-CP. Vậy nên, trước khi Nghị định 118/2015/NĐ-CP ra đời, có sự không tương thích giữa các văn bản này, các nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp không được hưởng ưu đãi với lĩnh vực này nữa mà chỉ được hưởng ưu đãi khi địa bàn Khu Công nghiệp mà họ đầu tư thuộc danh mục địa bàn ưu đãi thuế TNDN được quy định tại phụ lục Nghị định 218/2013/NĐ-CP. Danh mục này nay được thay thế bằng Danh mục trong Nghị định 118/2015/NĐ-CP đã cải thiện, thay đổi những khúc mắc của nhà đầu tư. Các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh kết cấu nhà tầng sẽ được hưởng ưu đãi dựa trên địa bàn – Khu Công nghiệp. Tuy vậy, về mặt bản chất, các doanh nghiệp này được hưởng ưu đãi vẫn chỉ căn cứ vào địa bàn như các doanh nghiệp khác trong Khu Công nghiệp chứ không có ngoại lệ nào nhờ lĩnh vực kinh doanh của mình. b. Mức thuế suất: Đối với doanh nghiệp nói chung khi đầu tư vào Khu Công nghiệp hưởng ưu đãi thuế theo tiêu chí địa bàn, Nghị định 218/2013/NĐ-CP không ấn định mức thuế suất mà chỉ quy miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo quy định miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo. Đối với các doanh nghiệp khi đầu tư vào Khu Công nghiệp mà hưởng ưu đãi theo tiêu chí lĩnh vực sản xuất hoặc tỷ lệ vốn đầu tư thì thì tuỳ theo từng điều kiện cụ thể sẽ được hưởng các mức ưu đãi cao nhất là: Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, thuế suất 10% đối với khoản thu nhập được hưởng ưu đãi hoặc Thuế suất 20% trong thời gian mười năm 26
  34. c. Ưu đãi của dự án mở rộng: Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 29/2008/NĐ-CP về Khu Công nghiệp đều quy định dự án đầu tư mở rộng được áp dụng tương tự như dự án mới thông thường, tuy nhiên, Điều 15.3 Luật Đầu tư 2014 đã chú trọng nhấn mạnh vai trò của văn bản chuyên ngành, đồng thời thống nhất, hệ thống hóa chế định ưu đãi đầu tư thông qua quy định “Mức ưu đãi cụ thể đối với từng loại ưu đãi đầu tư được áp dụng theo quy định của pháp luật về thuế và pháp luật về đất đai”. Nghị định 218/2015/NĐ-CP đưa ra ưu đãi thuế Thu nhập Doanh nghiệp với lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại hoặc được miễn thuế, giảm thuế đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại, miễn là dự án đầu tư mở rộng đó thỏa mãn một trong ba tiêu chí sau (Điều 16.5): (i) Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động đạt tối thiểu từ 20 tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Nghị định này hoặc từ 10 tỷ đồng đối với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; (ii) Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với tổng nguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư; (iii) Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khi đầu tư. Các quy định trong Nghị định 218/2013/NĐ-CP là bước tiến bộ đáng kể trong quá trình lập pháp. Bởi lẽ, nó khắc phục được những nhược điểm trong các văn bản pháp luật trước đây: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, Nghị định 124/2008/NĐ-CP đều không có điều khoản về ưu đãi dành cho dự án mở rộng. Tuy nhiên, với điều kiện doanh nghiệp phải thỏa mãn một trong ba tiêu chí trên, ưu đãi của dự án đầu tư mở rộng vẫn là bài toán khó đối với các doanh nghiệp, 27
  35. khi mà trong các quy định khung đều cho phép dự án đầu tư mở rộng được hưởng tương tự như dự án đầu tư mới, trong bất kì trường hợp nào từ địa bàn, lĩnh vực hoạt động, Vì vậy, việc áp dụng các ưu đãi này cho dự án đầu tư mở rộng vẫn còn gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. 2.1.3.2. Ưu đãi về thuế Nhập khẩu Nghị định 118/2015/NĐ-CP có hiệu lực đã dẫn đến nhiều thay đổi về ưu đãi thuế nhập khẩu. Trước đây, chỉ dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư quy định trong Phụ lục 1 của Nghị định 87/2010/NĐ-CP mới được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu. Vào thời điểm đó, Nghị định 87/2010/NĐ-CP đã liệt kê 24 lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và 39 lĩnh vực ưu đãi đầu tư - Phạm vi này nhỏ hơn đáng kể so với 27 nhóm ngành thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và 53 nhóm ngành thuộc danh mục ưu đãi đầu tư của Nghị định 108/2006/NĐ-CP nên gây nhiều khó khăn, bất cập đối với các doanh nghiệp. Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118 hướng dẫn đã khắc phục nhược điểm này bằng cách thay thế Danh mục đính kèm Nghị định 87/2010/NĐ-CP bằng một Danh mục ưu đãi đầu tư duy nhất trong Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Bối cảnh áp dụng quy định ưu đãi thuế Nhập khẩu có chuyển biến đáng kể khi Luật Đầu tư 2014 ra đời không còn quy định cụ thể về việc áp dụng ưu đãi thuế Nhập khẩu. Trước đây, Điều 33.3 của Luật Đầu tư 2005 quy định “Nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, vật tư, phương tiện vận tải và hàng hóa khác để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” và Nghị định 108/2006/NĐ-CP cũng hướng dẫn “Nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định này được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” (Điều 25.2). Trong khi đó, Luật Thuế Xuất khẩu, Thuế Nhập khẩu 2006 ban hành các quy phạm điều chỉnh hàng loạt các vấn đề về xuất nhập khẩu. Ưu đãi dành cho nhà đầu tư chỉ là một phần nhỏ trong hệ thống văn bản này và được quy định 28
  36. hướng dẫn tại Nghị định 87/2010/NĐ-CP với một Danh mục riêng giới hạn ưu đãi cho các dự án đầu tư. Đồng thời, Địa bàn được ưu đãi về thuế nhập khẩu quy định tại khoản 6, khoản 9 và khoản 14 Điều 12 Nghị định 87/2010/NĐ-CP thực hiện theo Danh mục địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 124/2008/NĐ-CP (hết hiệu lực từ 5/2/2014 và được thay thế bởi Nghị định 218) và Nghị định số 53/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2010 quy định về địa bàn ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị hành chính mới thành lập do Chính phủ điều chỉnh địa giới hành chính. Chính vì sự phức tạp chồng lặp này, Luật Đầu tư mới ra đời cùng với chính sách thống nhất danh mục ưu đãi đầu tư trong Nghị định 118/2015/NĐ-CP đã lược bỏ những quy định này, hệ thống hóa chính sách ưu đãi cho các dự án của nhà đầu tư trong vấn đề thuế nhập khẩu. Theo đó, các căn cứ theo pháp luật hiện hành để doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu như sau: - Căn cứ theo lĩnh vực đầu tư: Nhóm 1: Doanh nghiệp sản xuất trong Khu Công nghiệp, tùy vào các lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp có nhập khẩu các loại hàng hóa dưới đây hay không thì doanh nghiệp đấy sẽ được miễn thuế nhập khẩu các loại hàng hóa đấy (Điều 12.6, Nghị định 87/2010/NĐ-CP): (i) Thiết bị, máy móc; (ii) Phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ trong nước chưa sản xuất được; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên và phương tiện thủy; (iii) Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng quy định tại điểm a và điểm b khoản này; (iv) Nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi 29
  37. tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc quy định tại điểm a khoản này; (v) Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được. Nhóm 2: Doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp. Xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư của Luật Đầu tư được quy định trong Danh mục ưu đãi đầu tư đính kèm Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Trước khi Nghị định 118/2015/NĐ-CP có hiệu lực, các doanh nghiệp này không được hưởng ưu đãi nhập khẩu vì không nằm trong Danh mục ưu đãi đính kèm Nghị định 87/2010/NĐ-CP. Đến nay, khi sáp nhập vào Danh mục ưu đãi duy nhất tại Nghị định 118 thì các doanh nghiệp này được hưởng ưu đãi của ngành nghề ưu đãi đầu tư. - Căn cứ vào địa bàn đầu tư: Điều 12.14 Nghị định 87/2010/NĐ-CP đã đưa ra ưu đãi miễn thuế nhập khẩu trong vòng 5 năm kể từ ngày bắt đầu sản xuất đối với “Nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của các dự án đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (trừ các dự án sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, điều hòa, máy sưởi điện, tủ lạnh, máy giặt, quạt điện, máy rửa bát đĩa, đầu đĩa, dàn âm thanh, bàn là điện, ấm đun nước, máy sấy khô tóc, làm khô tay và những mặt hàng khác /theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ)”. Như đã đề cập ở trên, Danh mục đính kèm Nghị định 87/2010/NĐ-CP đã được hủy bỏ và thay thế thành Danh mục chung tại Nghị định 118. Vì vậy, ta có thể dẫn chiếu sang các dự án đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, địa bàn đặc biệt khó khăn tại Danh mục ưu đãi đầu tư của Nghị định 118. Khu Công nghiệp thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên các nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu phục vụ các dự án tại Khu Công nghiệp sẽ được hưởng ưu đãi này. 30
  38. - Căn cứ vào tỷ lệ vốn đầu tư: Đây là một loại hình dự án đầu tư mới, được quy định cụ thể trong Luật Đầu tư 2014, dựa vào tỷ lệ vốn góp trong một thời gian nhất định: “Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư” (Điều 15).Theo nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 16.2, các dự án này sẽ được hưởng ưu đãi đầu tư như quy định đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Như vậy, với loại hình dự án này, cho dù trong hay ngoài Khu Công nghiệp, doanh nghiệp sẽ được hưởng ưu đãi nhập khẩu như đối với dự án đầu tư tại địa bàn đặc biệt khó khăn. 2.1.3.3. Ưu đãi về sử dụng đất Như tác giả đã đề cập ở trên, các ưu đãi cụ thể của doanh nghiệp sẽ được quy định trong văn bản pháp luật chuyên ngành. Luật Đầu tư 2014, Điều 26 cũng đã quy định cụ thể về ưu đãi về thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước như sau: “miễn, giảm thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về thuế”. Các trường hợp được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất được quy định trong Luật Đất đai là khi sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại) (Điều 110). Đất Khu Công nghiệp thuộc nhóm đất phi nông nghiệp (Điều 10.2 (đ) Luật Đất đai 2013) và Khu Công nghiệp thuộc địa bàn đặc việt ưu đãi đầu tư với các doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực được hưởng ưu đãi thuộc phạm vi ưu đãi này. Như vậy, các ưu đãi về sử dụng đất của nhà đầu tư bao gồm: Ưu đãi về tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước và ưu đãi về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, được quy định trong Luật Đất Đai 2013, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và các văn bản hướng dẫn. 31
  39. a. Ưu đãi về tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước: Các ưu đãi tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước được quy định cụ thể tại Luật Đất đai 2013 và Nghị định 46/2012/NĐ-CP quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Điểm khác biệt của các văn bản này là không đưa ra mức tiền ưu đãi cụ thể, mà chỉ có hai phương án: Miễn tiền và giảm tiền thuê đất trong các trường hợp cụ thể. Nguyên tắc thực hiện ưu đãi này cũng được quy định trong Nghị định 46/2012/NĐ-CP, đây là một điểm khác biệt nữa vì Nghị định 118 hướng dẫn Luật Đầu tư 2014 cũng đã có các nguyên tắc chung, chuẩn mực thực hiện ưu đãi đầu tư. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ các văn bản trước đây, nguyên tắc ưu đãi trong Nghị định 46/2012/NĐ-CP đều đồng bộ, thống nhất và bổ sung cho Nghị định 118/2015/NĐ-CP với các nguyên tắc riêng đối với hoạt động thuê đất, thuê mặt nước. Ví dụ trong trường hợp người thuê đất, thuê mặt nước vừa thuộc đối tượng được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước vừa thuộc đối tượng được giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước, sau khi được hưởng ưu đãi miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước thì tiếp tục được giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định cho thời gian thuê đất tiếp theo (nếu có); trường hợp được hưởng nhiều mức giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước khác nhau thì được hưởng mức giảm cao nhất (Điều 18, Nghị định 46/2012/NĐ-CP). Nguyên tắc này hoàn toàn thống nhất với nguyên tắc thực hiện ưu đãi đầu tư tại Điều 16, Nghị định 118/Luật đầu tư 2014: “Dự án đầu tư đáp ứng điều kiện hưởng các mức ưu đãi đầu tư khác nhau được áp dụng mức ưu đãi cao nhất”. Về đối tượng hưởng ưu đãi này, căn cứ vào nguyên tắc tại Điều 18, Nghị định 46/2012/NĐ-CP, việc miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước được thực hiện theo từng dự án đầu tư gắn với việc cho thuê đất mới. Việc thuê đất mới chỉ được thực hiện bởi doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng (Nhóm 2), bởi lẽ đây là nhóm doanh nghiệp đầu tiên được tiếp xúc và đầu tư vào Khu Công nghiệp do đặc thù hoạt động của mình. Vì vậy, có thể nói đây là nhóm 32
  40. doanh nghiệp duy nhất được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất, trực tiếp được Nhà nước cho thuê đất. Pháp luật cũng quy định các trường hợp thuê đất có quyền cho thuê lại đất (Điều 149, Luật Đất đai 2013), tuy nhiên, các doanh nghiệp thuê lại thứ cấp sẽ không được hưởng các ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất. Với đặc thù đối tượng nói trên, sẽ có các trường hợp cụ thể nhận được ưu đãi như sau: - Miễn tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong Khu Công nghiệp (Điều 149 của Luật Đất đai 2013, Điều 19.1 (k) Nghị định 46/2012/NĐ-CP); - Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước không quá 3 năm trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt tối đa kể từ ngày có quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước (Điều 19.1 (k) Nghị định 46/2012/NĐ-CP); - Các dự án trên sau khi được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước sẽ được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tùy thuộc vào các trường hợp cụ thể: (i) Bảy (7) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, tức địa bàn Khu Công nghiệp theo Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư của Nghị định 118; (ii) Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư, trong đó lĩnh vực xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng trong Khu Công nghiệp là lĩnh vực được đặc biệt ưu đãi; (iii) Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, tức Khu Công nghiệp. Trước khi Nghị định 118 có hiệu lực, các địa bàn ưu đãi đầu tư theo các văn bản về đất đai này quy định là các địa bàn có địa giới hành chính cụ thể - điều này đã được Điều 66.2 Nghị định 118 bãi bỏ. Chính vì vậy, khi nói đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nếu như trước đây phải là một địa điểm cụ thể, không bao hàm chung về các Khu Công nghiệp, thì đến hiện nay, sẽ được hiểu bao hàm cả Khu Công nghiệp. Quy định này sẽ mở rộng thêm cơ hội cho các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp có thêm nhiều khả năng đạt được ưu đãi về tiền thuê đất, thuê mặt nước. 33
  41. - Giảm tiền thuê đất với mức giảm 50% doanh trong thời gian ngừng sản xuất kinh doanh chỉ được áp dụng khi xảy ra bất khả kháng, thiên tai, hỏa hoạn (Điều 20, NĐ 46/2014/NĐ-CP). b. Ưu đãi về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Như đã đề cập trên, đất xây dựng Khu Công nghiệp thuộc đất phi nông nghiệp. Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2012 đã quy định cụ thể về các đối tượng chịu thuế, phạm vi áp dụng trực tiếp với người nộp thuế và nguyên tắc áp dụng. Theo đó, các chủ đầu tư doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng Khu Công nghiệp là đối tượng trực tiếp phải nộp thuế này. Lưu ý rằng, đối với các cơ sở hạ tầng chung sử dụng cho mục đích công cộng của toàn bộ Khu Công nghiệp sẽ không phải đối tượng chịu thuế này (Điều 3, Nghị định 53/2011/NĐ-CP). Khi chủ đầu tư doanh nghiệp trong cùng một nơi được hưởng ưu đãi miễn thuế, hoặc giảm thuế thì chủ đầu tư phải lựa chọn một ưu đãi duy nhất, trừ khi doanh nghiệp gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất trên 50% giá tính thuế (Điều 11, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2012). Các trường hợp để doanh nghiệp được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp như sau (Điều 9, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2012 và Điều 8, Nghị định 53/2011/NĐ-CP): - Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư. Xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng Khu Công nghiệp thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo Danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư đính kèm Nghị định 118/2015/NĐ-CP; - Đất của dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tức Khu Công nghiệp. Bên cạnh ưu đãi miễn thuế sử dụng đất, pháp luật còn đưa ra các trường hợp được giảm thuế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp đều không nằm trong phạm vi áp dụng các ưu đãi giảm thuế này. 34
  42. 2.1.3.4. Các biện pháp hỗ trợ đầu tư Các biện pháp hỗ trợ đầu tư không nằm trong ưu đãi đầu tư mà là những quy phạm riêng biệt, áp dụng cho toàn bộ nhà đầu tư. Trong khi đó, ưu đãi đầu tư chỉ dành cho những ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn nằm trong Danh mục ưu đãi. Tuy nhiên, đối với Khu Công nghiệp, Nhà nước có dành cho biện pháp hỗ trợ đặc biệt trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng được quy định tại Điều 20 Luật Đầu tư và Điều 18, Điều 19 Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Vì vậy, khóa luận sẽ không đi sâu phân tích những biện pháp hỗ trợ đầu tư nói chung mà chỉ phân tích các biện pháp hỗ trợ đầu tư mà nhà đầu tư trong Khu Công nghiệp được áp dụng nói riêng. - Về hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng trong Khu Công nghiệp, Nhà nước hỗ trợ một phần vốn đầu tư phát triển từ ngân sách và vốn tín dụng ưu đãi để phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào Khu Công nghiệp theo Chương trình mục tiêu đầu tư hạ tầng khu công nghiệp được phê duyệt trong từng giai đoạn. - Về tiền ký quỹ, doanh nghiệp, nhà đầu tư được giảm 25% đối với dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; dự án đầu tư thực hiện trong khu công nghiệp, khu chế xuất, kể cả dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp (Điều 27.6, Nghị định 118/2015/NĐ-CP). - Các lao động nữ làm việc trong Khu Công nghiệp có nhiều lao động nữ nhận được nhiều hỗ trợ của Nhà nước. Theo đó, Khu Công nghiệp có nhiều lao động nữ là Khu Công nghiệp có từ 5.000 lao động nữ trở lên đang làm việc trong các doanh nghiệp và có tham gia đóng bảo hiểm xã hội trên địa bàn khu công nghiệp (Điều 3.2, Nghị định 85/2015/NĐ-CP). Những lao động nữ này sẽ được nhận nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể trong Nghị định 85/2015 về điều kiện lao động, đại diện lao động, quy định về sức khỏe, xây dựng nhà trẻ trong khu vực làm việc, quy định về hợp đồng lao động, chế độ làm việc 35
  43. 2.2. Pháp luật về thủ tục thực hiện ƣu đãi đầu tƣ trong Khu Công nghiệp 2.2.1. Thẩm quyền quản lý nhà nước thực hiện ưu đãi đầu tư trong Khu Công nghiệp Khác với các doanh nghiệp thông thường, Nhà nước thực hiện hoạt động quản lý thông qua một đơn vị chuyên biệt – Ban Quản lý Khu Công nghiệp. Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp (Điều 36, Nghị định 29/2008/NĐ-CP). Bên cạnh các hoạt động ban đầu của dự án đầu tư như quyết định chủ trương đầu tư vẫn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 31, Điều 32 Luật Đầu tư 2014) thì các hoạt động sau đó như cấp Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư, quản lý hoạt động thường kỳ sẽ thuộc thẩm quyền của Ban Quản lý Khu Công nghiệp. Đối với thẩm quyền cấp Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư, Ban Quản lý Khu Công nghiệp có thẩm quyền cấp cho các doanh nghiệp sản xuất trong Khu Công nghiệp (Nhóm 1), còn các doanh nghiệp có dự án phát triển kết cấu hạ tầng trong Khu Công nghiệp (Nhóm 2) vẫn thuộc thẩm quyền của Sở Kế hoạch và Đầu tư (Điều 28 Nghị định 118/2015/NĐ-CP). Như vậy, Ban Quản lý Khu Công nghiệp trực thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền lớn trong Khu Công nghiệp ngay từ đầu vào (Giấy Chứng nhận Đăng ký Đầu tư). - Do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Quản lý - Trực thuộc UBND tỉnh Khu Công nghiệp Phòng quản lý Phòng quản lý Phòng quản lý Phòng quản lý chuyên ngành chuyên ngành chuyên ngành chuyên ngành Sơ đồ 2.1: Mô hình Ban Quản lý Khu Công nghiệp 36
  44. Điều 37, Nghị định 29/2008/NĐ-CP và Điều 21, Nghị định 164/2013/NĐ- CP quy định cụ thể các nhiệm vụ của Ban Quản lý Khu Công nghiệp đặc biệt cụ thể, bao hàm các hoạt động xuyên suốt của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong Khu Công nghiệp trong thời gian hoạt động kinh doanh của mình: - Cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn thu hồi các loại Giấy phép: Giấy Chứng nhận đầu tư, Giấy phép thành lập văn phòng đại diện thương mại của nhà đầu tư nước ngoài, Giấy phép kinh doanh, Giấy phép lao động cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm trong Khu Công nghiệp, Giấy Chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho hàng hóa sản xuất ở Khu Công nghiệp - Quản lý, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch có liên quan tới khu công nghiệp - Tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến môi trường: Thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong khu công nghiệp, cấp giấy xác nhận cho các đối tượng thuộc diện đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường hoạt động trong khu công nghiệp; thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận đề án bảo vệ môi trường chi tiết và đề án bảo vệ môi trường đơn giản cho các dự án trong khu công nghiệp - Tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý đầu tư: giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư; chủ trì, phối hợp kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các điều khoản cam kết đối với các dự án được hưởng ưu đãi đầu tư và việc chấp hành pháp luật về xây dựng, lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động - Hoạt động báo cáo: Báo cáo thống kê, báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp và báo cáo định kỳ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình: xây dựng và phát triển khu công nghiệp. 37
  45. Như vậy, không chỉ ở giai đoạn thành lập doanh nghiệp mà sau khi hoàn thành thủ tục thành lập doanh nghiệp, các doanh nghiệp đầu tư vào Khu Công nghiệp sẽ tiếp tục được quản lý theo một đầu mối chung là Ban quản lý các Khu Công nghiệp. Với hoạt động quả lý chuyên biệt của Khu Công nghiệp này sẽ tạo ra một hành lang pháp lý chuyên biệt, một môi trường đầu tư phát triển thuận lợi cho nhà đầu tư mà lại giúp các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời điều chỉnh các hoạt động trong Khu Công nghiệp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định, kịp thời tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách áp dụng cho Khu Công nghiệp. 2.2.2. Thủ tục cấp, điều chỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư 2.2.2.1. Thủ tục cấp ưu đãi đầu tư Luật Đầu tư 2005 trước đây quy định cụ thể về thủ tục cấp ưu đãi đầu tư đối với các nhà đầu tư trong nước tại Điều 38, tức là dành riêng một điều khoản cho các nhà đầu tư trong nước, một phần nguyên nhân do các dự án đầu tư trong nước thường gặp khó khăn trong việc xin ưu đãi đầu tư. Trong khi đó, nhà đầu tư nước ngoài lại không được quy định cụ thể mà nằm rải rác trong các văn bản luật đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để đảm bảo khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, pháp luật Việt Nam có xu hướng không phân biệt nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong hoạt động ưu đãi đầu tư để hình thành một môi trường đầu tư bình đẳng. Chính vì vậy, Luật Đầu tư 2015 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP đã thống nhất quy định thành một cụm từ chung nhất là “dự án đầu tư”. Đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư được chia làm ba loại: Dự án đầu tư được cấp Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư, Dự án đầu tư thuộc diện được cấp văn bản quyết định chủ trương đầu tư và Dự án đầu tư không thuộc cả hai trường hợp trên (Điều 17, Luật Đầu tư 2014). Căn cứ vào các đối tượng này, ưu đãi đầu tư được ghi trên Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư hoặc trên văn bản quyết định chủ trương đầu tư. Đối với trường hợp không nằm trong các loại văn bản trên thì 38
  46. doanh nghiệp, nhà đầu tư căn cứ đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư của các văn bản khung và văn bản chuyên ngành có liên quan để tự xác định ưu đãi đầu tư và thực hiện thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại Cơ quan áp dụng ưu đãi đầu tư. (Điều 17.2, Điều 17.3, Nghị định 118/2015/NĐ-CP). Ngoài các quy định trên tại Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ- CP hướng dẫn thì chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào khác hướng dẫn chi tiết hơn về thủ tục ưu đãi đầu tư này. Đây cũng là điểm cần lưu ý so với các văn bản pháp luật trước đây, khi Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108 ra đời cũng không có bất kỳ các văn bản nào khác hướng dẫn về các quy định này. Tuy Luật Đầu tư 2014 mới ra đời và khó có để đoán chắc chắn liệu có sự xuất hiện của một văn bản quy phạm pháp luật bổ sung, hướng dẫn về vấn đề này hay không. Nhưng với số lượng văn bản hướng dẫn hiện hành, tuy đã góp phần thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với hoạt động đầu tư hiện này ở Việt Nam nhưng vẫn chưa khắc phục hết các nhược điểm trước đây. Ví dụ như việc ghi nhận ưu đãi đầu tư vào Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư tạo ra bất cập khi triển khai dự án có điều chỉnh ưu đãi đầu tư sẽ bắt buộc các nhà đầu tư phải thường xuyên làm thủ tục cấp đổi Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư. Việc thủ tục ưu đãi được ghi trên các văn bản, giấy chứng nhận và do nhà đầu tư “tự xác định ưu đãi đầu tư” của mình cũng gây nên nhiều tranh cãi. Bởi lẽ, các doanh nghiệp thường gặp khó khăn khi xác định mình đủ điều kiện hưởng ưu đãi hay không, xác định ưu đãi đầu tư mình được nhận trong phạm vi nào và dẫn đến việc nhà đầu tư có thể sẽ không hiểu, không biết để đảm bảo thực hiện quyền lợi đầu tư của mình. Tuy nhiên, việc tự xác định ưu đãi đầu tư này cũng tạo ra một hình thái tích cực của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong việc lựa chọn ưu đãi đầu tư cho mình, miễn là phù hợp với nguyên tắc ưu đãi đầu tư, trong đó có nguyên tắc “dự án đầu tư đáp ứng điều kiện hưởng các mức ưu đãi đầu tư khác nhau được áp dụng mức ưu đãi cao nhất” (Điều 16.2, Nghị định 118/2015/NĐ-CP). Để các doanh nghiệp tự chủ trong việc áp dụng ưu đãi đầu tư nguyên nhân do chính doanh nghiệp mới hiểu 39
  47. rõ nhất mục tiêu kinh doanh, chiến lược hoạt động của mình là gì, từ đó đẩy mạnh chiến lược ưu đãi đầu tư ở một mức cụ thể nhất định. 2.2.2.2. Thủ tục điều chỉnh ưu đãi đầu tư Tương tự như thủ tục cấp ưu đãi đầu tư, thủ tục thực hiện điều chỉnh ưu đãi đầu tư cũng được quy định gọn trong một điều khoản tại Điều 17.4, Nghị định 118/2015/NĐ-CP mà không có các văn bản pháp luật khác hướng dẫn. Các quy định này mang tính chất chung, nguyên tắc, có thể áp dụng với tất cả các trường hợp dự kiến xảy ra: - Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng điều kiện để được hưởng thêm ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư đó cho thời gian ưu đãi còn lại; - Nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi theo quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư. - Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư khác thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi theo điều kiện đó; - Trường hợp dự án đầu tư có thời gian không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi đầu tư cho thời gian không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư. Tuy đã dự kiến các trường hợp của điều chỉnh ưu đãi đầu tư (thêm, giảm, hủy bỏ ưu đãi đầu tư) nhưng Nhà nước lại chưa đưa ra các biện pháp kèm theo để thực hiện được việc điều chỉnh ưu đãi đầu tư này. Ví dụ trong trường hợp nhà đầu tư đang hưởng ưu đãi đầu tư theo Giấy Chứng nhận Đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư mà không còn đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi nữa thì nhà đầu tư sẽ phải điều chỉnh các văn bản đầu tư cho phù hợp việc không hưởng ưu đãi. Tuy nhiên, việc không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi này có làm phát sinh thêm các nghĩa vụ thì Nhà nước lại không quy định rõ. Hiện nay, Luật Đầu tư 2014 đã đưa ra các dự án đầu tư có điều kiện (quy mô vốn đầu tư 6000 tỷ 40
  48. đồng trong thời hạn 3 năm, số lượng 500 nhân công tại vùng nông thôn, ), việc không đáp ứng điều kiện về quy mô vốn đầu tư, số lượng nhân công này có dẫn đến hệ quả nhà đầu tư có phải trả lại những ưu đãi đầu tư đã được cấp trước đó không, nhà đầu tư có bị phạt do không đáp ứng điều kiện trên hay không vẫn là một câu hỏi lớn. 2.3. Bảo đảm ƣu đãi đầu tƣ Quy định bảo đảm ưu đãi đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật không phải là quy định mới của Luật Đầu tư 2014 vì trong các văn bản trước đây (Luật Đầu tư 2005, Nghị định 108) đều có đề cập về vấn đề này. Tuy nhiên, các điều khoản bảo đảm ưu đãi đầu tư tại Luật Đầu tư 2014 có nhiều tiền bộ hơn trước: - Đối tượng áp dụng đối với các nhà đầu tư được hưởng theo quy định tại văn bản pháp luật có hiệu lực trước thời điểm văn bản pháp luật mới có hiệu lực (Điều 3, Nghị định 118), tức là trước khi Nghị định 118/2015/NĐ-CP có hiệu lực. Các văn bản pháp luật ở đây bao hàm tất cả các loại giấy phép liên quan đến hoạt động đầu tư mà nhà đầu tư được cấp dựa trên các quy định trước đây: Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một quy định rõ ràng thiết yếu, vì với việc thay đổi pháp luật đầu tư liên tục sẽ khiến các nhà đầu tư bối rối và không rõ sẽ thực hiện theo quy định nào. - Bảo đảm ưu đãi đầu tư chỉ trong trường hợp thay đổi pháp luật chứ không bao hàm trường hợp thay đổi chính sách. Việc loại bỏ “chính sách” ra khỏi bảo đảm ưu đãi đầu tư nhằm chỉ rõ phạm vi bảo đảm đầu tư, quy định về chính sách trước đây rất chung chung, không cụ thể nên không mang tính thực tiễn. - Nguyên tắc bảo đảm ưu đãi đầu tư: (i) Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án; (ii) Trường hợp 41
  49. văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án. Trường hợp này không áp dụng khi thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường (Điều 13.3, Luật Đầu tư 2014). Quy định về trường hợp loại trừ này lần đầu xuất hiện trong Luật Đầu tư đã củng cố chắc chắn hệ thống pháp quy, bảo đảm Nhà nước thực hiện được thẩm quyền quản lý của mình và lợi ích của người dân, bởi trong các lý do kể trên, mục tiêu cuối cùng là để bảo vệ lợi ích xã hội, an ninh quốc gia, nhất là đặt trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam ngày nay. - Thủ tục không được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư trong trường hợp ngoại trừ: được quy định cụ thể và chi tiết trong Điều 13.4 Luật Đầu tư 2014 và Điều 3.3 Nghị định 118/2015/NĐ-CP về biện pháp bảo đảm ưu đãi đầu tư thay thế, thủ tục, hồ sơ thực hiện, 42
  50. Chƣơng 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật ƣu đãi đầu tƣ đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 3.1.1. Thực tiễn thực thi pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Thực thi pháp luật ưu đãi đầu tư sẽ tác động đa chiều đến hoạt động kinh doanh của cả nước. Để đánh giá được hiệu quả thực thi pháp luật đâu tư, ta phải căn cứ vào sự thu hút đầu tư nước ngoài, sự bình đẳng, công khai và ổn định của hệ thống pháp luật. Bảng xếp hạn về môi trường kinh doanh toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (WorldBank) cho thấy sự tăng trưởng, tiến bộ trong hoạt động đầu tư của Việt Nam. Theo đó, năm 2015, Việt Nam đứng thứ 90/189 nền kinh tế, tăng bậc so với vị trí 99 của Việt Nam năm 2013 và nếu so với các năm trước đó khi Việt Nam được đánh giá là không tăng trưởng nhiều dù có nhiều cải cách thì từ năm 2015, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ để đạt được vị trí cao về môi trường kinh doanh toàn cầu. Dưới đây là các thành phần đánh giá về môi trường kinh doanh cụ thể: Bảng 3.1: Bảng so sánh các chỉ số thành phần của Việt Nam trong Doing Business 2010 - 2016 43
  51. Với bảng xếp hạng căn cứ trên nhiều tiêu chí này, có thể thấy rõ vai trò của ưu đãi đầu tư nói riêng và vai trò của pháp luật đầu tư nói chung trong bối cảnh hoạt động đầu tư cả nước và cả trong Khu Công nghiệp. Luật Đầu tư 2014 đã có nhiều thay đổi, điều chỉnh trong các quy định về hoạt động đầu tư, giúp đẩy mạnh cải cách các thủ tục và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hơn trong lĩnh vực đầu tư. Để đánh giá thực trạng áp dụng ưu đãi đầu tư tại Khu Công nghiệp, có thể quan sát dưới các khía cạnh hoạt động đầu tư chi tiết, bao gồm: - Hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước ở Khu Công nghiệp: Các cơ quan đầu mối là Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Nhân dân cấp Tỉnh và Ban Quản lý Khu Công nghiệp đã phối hợp làm việc khá tốt trong hoạt động quản lý các doanh nghiệp trong phạm vi của mình. Các chiến lược, chính sách ưu đãi và thủ tục ưu đãi đầu tư trong địa bàn của mình được công bố và số hóa trên các trang điện tử của các cơ quan này. Ngày nay, doanh nghiệp, nhà đầu tư không còn gặp quá nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin ưu đãi đầu tư cũng như yêu cầu giải đáp các thắc mắc của mình thông qua các phương tiện điện tử truyền thông (băng đĩa, tư liệu số hóa, ). Không chỉ thông qua phương tiện đại chúng, các cơ quan nhà nước còn trực tiếp công tác cập nhật, thực hiện ưu đãi đầu tư thông qua tổ chức các hội thảo, tọa đàm phổ biến rộng rãi quy định ưu đãi đầu tư. Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư cũng có nhiều tiến bộ với cơ chế “một cửa, tại chỗ” đã phát huy tác dụng trong việc đẩy mạnh nhanh chóng cơ chế hành chính. Ban Quản lý Khu Công nghiệp thể hiện rõ vai trò của mình thông qua những quyền hạn được pháp luật quy định đã rút ngắn được thủ tục ưu đãi hành chính. Quy định pháp luật về phạm vi ưu đãi cũng đã được thống nhất vào chung một Danh mục ưu đãi duy nhất trong Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Việc tập trung chỉ một danh mục này đã cải thiện được các bất cập trước đây, khi nhà đầu tư phải tra cứu nhiều văn bản, nhiều danh mục không những không đồng nhất về ưu đãi đầu tư mà còn bị hạn chế về phạm vi ưu đãi. 44
  52. - Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, nhà sản xuất trong Khu Công nghiệp: Các nhà đầu tư nước ngoài đang mạnh dạn đầu tư vào Việt Nam hơn, tính chung trong 12 tháng năm 2015, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 22,757 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2014. Theo số liệu của hệ thống thông tin về Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2015 cả nước có 2.013 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký là 15,578 tỷ USD, bằng 99,6% so với cùng kỳ năm 2014. Có 814 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,18 tỷ USD, tăng 56,5% so với cùng kỳ năm 2014. Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 955 dự án đầu tư đăng ký mới và 517 lượt dự án tăng vốn, với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 15,23 tỷ USD, chiếm 66,9% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đã có 62 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu với 702 dự án cấp mới và 260 dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 6,72 tỷ USD, chiếm 29,6% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam. Malaysia đứng vị trí thứ hai với số vốn là 2,47 tỷ USD chiếm 10,9% tổng vốn đầu tư, Nhật Bản đứng vị trí thứ ba với số vốn đầu tư là 1,84 tỷ USD chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư, Đài Loan vươn lên vị trí thứ tư với số vốn đầu tư là 1,39 tỷ USD chiếm 6,1% tổng vốn đầu tư. Đặc biệt trong cùng kỳ, các Khu Công nghiệp đã thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài giá trị lớn: Dự án Công ty SamSung Display Việt Nam với số vốn đầu tư tăng thêm là 3 tỷ USD; dự án này được cấp phép năm 2014 với số vốn đầu ban đầu là 1 tỷ USD; dự án được đầu tư tại Khu Công nghiệp Yên Phong 1, Bắc Ninh với mục tiêu sản xuất, lắp ráp, gia công, tiếp thị hoặc bán các loại màn hình, dự án Nhà máy sản xuất Giấy Công ty TNHH Cheng Loong Bình Dương Paper tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD do nhà đầu tư Samoa đầu tư tại Khu công nghiệp Bình Dương với mục tiêu 45
  53. sản xuất giấy công nghiệp và giấy tiêu dùng, dự án Công ty TNHH Hyosung Đồng Nai tổng vốn đầu tư 660 triệu USD do nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư tại Khu công nghiệp Đồng Nai với mục tiêu sản xuất và gia công các loại sợi. Cụ thể số liệu được thể hiện trong bảng dưới đây: Bảng 3.2: Báo cáo Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Tháng 12/2015 12 12 tháng Đơn vị tháng So TT Chỉ tiêu năm tính năm cùng kỳ 2015 2014 1. Vốn thực hiện triệu USD 12,500 14,500 116.0% 2. Vốn đăng ký triệu USD 21,922 24,115 110.0% 2.1. Đăng ký cấp mới triệu USD 16,504 16,341 99.0% 2.2. Đăng ký tăng thêm triệu USD 5,418 7,774 143.5% 3. Số dự án 3.1 Cấp mới dự án 1,843 2,120 115.0% 3.2 Tăng vốn lượt dự án 749 918 122.6% 4. Xuất khẩu 4.1 Xuất khẩu (kể cả dầu thô) triệu USD 101,218 114,312 112.9% 4.2 Xuất khẩu (không kể dầu thô) triệu USD 93,989 110,592 117.7% 5. Nhập khẩu triệu USD 84,193 97,260 115.5% Bên cạnh đó, tại Khu Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh cũng đưa ra các báo cáo về tăng trưởng ưu đãi đầu tư nước ngoài lớn hơn so với đầu tư trong nước trong hai tháng đầu năm 2016. Trong 128 triệu USD vốn đầu tư thu hút được vào các KCX, KCN của Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng 2 tháng qua, vốn ngoại vẫn tiếp tục dẫn đầu với 80 triệu USD; 48 triệu USD, tương đương 1.077,7 tỷ đồng còn lại thuộc về vốn nội. Tuy có sự chênh lệch giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài nhưng với xu hướng tăng trưởng này, có thể thấy được nhu cầu đầu tư ngày càng tăng và thể hiện được môi trường thuận lợi, tiến bộ cho các nhà đầu tư hơn trước. 46
  54. 3.1.2. Những bất cập và tồn tại pháp luật trong việc áp dụng pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 3.1.2.1. Bất cập trong các quy định về ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Bất cập về các quy định ưu đãi đầu tư trước đây là ở chỗ: các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Nhưng nay đã được khắc phục bằng việc chỉ dùng một Danh mục duy nhất tại Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, chính việc thống nhất lại này lại trở thành một trở ngại mới do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về thực hiện ưu đãi đầu tư theo quy định mới này mà chỉ có một điều khoản trong Nghị định 118 nói về việc bãi bỏ các danh mục cũ (Điều 66). Các văn bản pháp luật chuyên ngành rải rác với số lượng lớn và được quy định nhỏ lẻ, nên khi xuất hiện thay đổi lớn liên quan đến toàn bộ hệ thống ưu đãi thì cần phải có một văn bản hướng dẫn tổng hợp để tránh tình trạng gây khó khăn cho các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước mắc phải nhầm lẫn trong quá trình thực hiện. Các quy định về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp Khu Công nghiệp nói riêng và tổng thể các doanh nghiệp bên ngoài nói chung mới chỉ chú trọng ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, hệ thống pháp lý về ưu đãi đầu tư không chỉ có thuế mà còn bao gồm cả các biện pháp hỗ trợ đầu tư khác (tài chính và phi tài chính). Để thu hút các nhà đầu tư, các quy định về ưu đãi pháp luật cần mang tính bao hàm rộng hơn vì các nhà đầu tư không chỉ lựa chọn thị trường đầu tư dựa trên các ưu đãi về thuế trong một khoảng thời gian nhất định mà cần những ưu đãi lâu dài, có chiến lược liên quan đến cơ sở hạ tầng, môi trường, thị trường cạnh tranh, bảo hiểm, Các loại hình dự án đầu tư mới đang tạo ra bất cập trong việc quản lý và đảm bảo thực hiện ưu đãi đầu tư. Các loại hình dự án đầu tư mới lần đầu tiên được đưa vào Luật Đầu tư 2014 là các loại hình dự án có điều kiện dựa trên tiêu chí về tỉ lệ vốn đầu tư và số lượng nhân công lao động. Tuy nhiên, ngoài nguyên 47
  55. tắc áp dụng ưu đãi đầu tư tại Điều 16 Nghị định 118/2015/NĐ-CP, rằng các dự án đầu tư này được thực hiện như dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn/ đặc biệt khó khăn thì không có văn bản hướng dẫn khác về việc áp dụng ưu đãi đầu tư của các loại hình này. Bởi vì các dự án này có tính chất đặc biệt là phải thỏa mãn các điều kiện mới được thực hiện ưu đãi đầu tư, nếu không có văn bản hướng dẫn thì các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi áp dụng ưu đãi: áp dụng theo văn bản pháp lý chung hay văn bản pháp lý chuyên ngành (trường hợp của dự án đầu tư 6000 tỷ đồng có được quy định trong cả hai văn bản: Luật Đầu tư và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp với các điều kiện khác nhau), thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư, thủ tục thực hiện khi không thỏa mãn điều kiện để áp dụng ưu đãi đầu tư, việc không thỏa mãn điều kiện ưu đãi đầu tư liệu có dẫn đến sai phạm và bị phạt thuế nộp chậm theo quy định của pháp luật quản lý thuế, Thiếu sót quy định thực hiện ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư mới thực hiện từ ngày 01/7/2015 đến ngày 26/12/2015. Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 với các quy định mới về ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư nhưng không quy định cụ thể mức ưu đãi đầu tư mà lại dẫn chiếu như sau: “Căn cứ ngành, nghề và địa bàn ưu đãi đầu tư quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư và Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư”. Tuy nhiên, Danh mục ngành, nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư nằm trong Nghị định 118/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 27/12/2015 và không đưa ra các quy định về các dự án đầu tư nằm trong khoảng thời gian trống này. Như vậy, dự án đầu tư được thực hiện theo Luật Đầu tư 2014 từ ngày 1/7/2015 đến ngày 26/12/2015 thì vẫn phải căn cứ theo các Danh mục ưu đãi đầu tư cũ tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP, Nghị định 87/2010/NĐ-CP, Nghị định 218/2013/NĐ-CP để xác định mức ưu đãi đầu tư của dự án. Tuy nhiên, do các Danh mục cũ này có sự chênh lệch lớn với Luật Đầu tư mới, đặc biệt khi có sự thay đổi về Danh mục ngành nghề, lĩnh vực ưu 48
  56. đãi, các loại hình dự án đầu tư nên việc xác định mức ưu đãi đầu tư của các dự án thuộc trường hợp trên sẽ không phù hợp với Luật Đầu tư 2014. 3.1.2.2. Bất cập trong thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp: Tuy rằng, pháp luật ưu đãi đầu tư đang được hoàn thiện từng ngày với các văn bản pháp lý được cập nhật dựa trên thực tiễn thực hiện. Nhưng việc áp dụng trên thực tế còn nhiều khó khăn do chính công tác thực hiện còn bị lạm dụng. Các địa phương vì lợi ích mà vượt khung ưu đãi để thu hút, tác động các nhà đầu tư vào địa bàn của mình. Trước đây, Luật Đầu tư 2005, Điều 31 có quy định rõ về việc các cơ quan Nhà nước không được tự ý ban hành vượt khung ưu đãi đầu tư của pháp luật. Tuy nhiên, không đưa ra cơ chế đảm bảo ngăn chặn được hành vi này và đến Luật Đầu tư 2014, điều khoản này đã không còn được quy định. Thủ tục hành chính thực hiện ưu đãi đầu tư còn rườm ra, mất thời gian. Các ưu đãi đầu tư áp dụng đối với doanh nghiệp, doanh nghiệp không tự động được hưởng, mà lại phải thông qua một quá trình thủ tục xin phép, thẩm tra, phê chuẩn ở các bộ ngành khác liên quan. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp lẽ ra được hưởng khá nhiều ưu đãi theo Luật đầu tư, nhưng trên thực tế rất khó có thể thực sự hưởng các ưu đãi này, và nếu có thì cũng phải mất thời gian và chi phí để thực hiện rất nhiều thủ tục với nhiều cơ quan khác nhau. Ví dụ thủ tục áp dụng ưu đãi về sử dụng đất, khoản 6, Điều 18, Nghị định 46/2014/NĐ-CP quy định: “Người thuê đất, thuê mặt nước chỉ được hưởng ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước sau khi làm các thủ tục để được miễn, giảm theo quy định”và Khoản 1, Điều 21 Nghị định này cũng quy định: “Căn cứ vào hồ sơ, giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định tại Điều 19, Điều 20 Nghị định này, cơ quan thuế xác định số tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp và số tiền thuê đất, thuê mặt nước được miễn, giảm”. Như vậy, mặc dù quy định rằng các ưu đãi đầu tư mà doanh nghiệp được hưởng sẽ được ghi nhận trực tiếp trên Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp nước ngoài) và tự xác nhận ưu đãi đầu tư được hưởng (đối với doanh 49
  57. nghiệp trong nước). Nhưng đối với quy định nêu trên thì vô hình chung đã xác nhận nhà đầu tư sẽ phải thực hiện thêm một thủ tục nữa đó là thủ tục xác nhận miễn, giảm tại cơ quan thuế. Thủ tục này làm mất thời gian cho các doanh nghiệp và đi ngược lại với nguyên tắc một cửa, tự động mà công cuộc cải cách thủ tục hành chính đang hướng đến. 3.2. Một số kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật ƣu đãi đầu tƣ đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Luật Đầu tư 2014 mới có hiệu lực và các văn bản pháp lý hướng dẫn còn ít nhưng đã khắc phục được nhiều nhược điểm của các quy định trước đây. Ví dụ như đã tạo sự nhất quán trong quy định về lĩnh vực ưu đãi đầu tư giữa Luật đầu tư và các văn bản khác, đặc biệt là với Luật thuế, thông qua việc thống nhất hệ thống Danh mục ưu đãi làm một. Đồng thời, pháp luật đã đảm bảo đối xử bình đẳng giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước trong mọi khía cạnh hoạt động, từ quy định thuật ngữ chung “nhà đầu tư”, điều kiện gia nhập thị trường, về quyền kinh doanh, về cách thức quản lý nhà nước và về việc được bảo đảm ưu đãi đầu tư khi xảy ra trường hợp thay đổi pháp luật. Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2014 còn nhiều bất cập cần phải bổ sung và điều chỉnh. Phần dưới đây sẽ trình bày những nguyên tắc định hướng cũng như một vài kiến nghị sửa đổi cụ thể. 3.2.1. Các nguyên tắc định hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Để hoàn thiện hệ thống pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp, chúng ta cần đưa ra các nguyên tắc chung. Các nguyên tắc này sẽ là cơ sở để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hay bãi bỏ các thủ tục, nội dung ưu đãi đầu tư. Chỉ khi bảo đảm những nguyên tắc này, pháp luật ưu đãi đầu tư mới có thể trở thành khung pháp lý ổn định, hệ thống, bình đẳng, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là những nguyên tắc sau: - Nguyên tắc thống nhất, đồng bộ áp dụng ưu đãi đầu tư giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các thành phần kinh tế để tạo ra động lực thúc đẩy đầu tư và một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho Khu Công nghiệp. 50
  58. - Nguyên tắc minh bạch, rõ ràng, dễ áp dụng các ưu đãi đầu tư. Luật Đầu tư 2014 đã đòi hỏi các doanh nghiệp, nhà đầu tư có sự chủ động trong việc lựa chọn, áp dụng các ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp của mình. Vì vậy, Nhà nước cần đảm bảo các quy định pháp luật được rõ ràng, được hướng dẫn cụ thể, rành mạch để tất cả các nhà đầu tư không gặp khó khăn, trở ngại trong quá trình áp dụng. - Nguyên tắc phù hợp với các cam kết quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập của quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển với hàng loạt các cam kết quốc tế được ký kết, trong đó, Hiệp định TPP là một Hiệp định cam kết tác động không nhỏ đến nền kinh tế nói chung và đầu tư nói riêng. Chính vì vậy, Luật Đầu tư 2014 và các văn bản tiếp theo khi ban hành cần phải thận trọng để không đi ngược lại với các cam kết chung đã ký kết. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng quy định bảo đảm đầu tư kinh doanh tại Điều 13 Luật Đầu tư 2014 là bước cờ thận trọng và sáng suốt khi đã dự đoán về các trường hợp có thể xảy ra. - Nguyên tắc phù hợp với các quy định pháp luật liên quan, khắc phục tình trạng ưu đãi tràn lan và không hiệu quả như thực trạng đã tồn tại trước đây. Các quy định về ưu đãi đầu tư cần được xây dựng một cách khoa học để pháp luật về ưu đãi đầu tư thực sư mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp đồng thời tránh được những ưu đãi quá mức dẫn đến lãng phí, không mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp hoặc không được thực thi trên thực tế. 3.2.2. Một số kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Dựa vào các phân tích trên, để góp phần hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp, khóa luận xin đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau: - Cần ban hành văn bản hướng dẫn về quy định ưu đãi đầu tư nói chung, áp dụng cho toàn bộ doanh nghiệp đầu tư cả nước nhằm hướng dẫn cụ thể các quy định mới về ưu đãi đầu tư. Hiện tại, Bộ Tài chính đã ban hành một dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2014 và Nghị 51